Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)

Tâm thức nô lệ, tâm địa tôi tớ không xa lạ gì với người Cộng sản. Trên lý thuyết, đảng Cộng sản chủ trương tạo ra cho thành viên của mình một bản tính mới, bên cạnh nhân tính vốn bẩm sinh nơi mọi con người. Bản tính mới ấy gọi là “đảng tính” vốn đòi hỏi tuân lệnh cấp trên vô điều kiện. Điều này đã bị vạch trần trong chương 1 cuốn “Cửu bình” (Chín bài bình luận về đảng CS Trung Quốc). “Đòi hỏi đầu tiên và quan trọng nhất của mọi thành viên ĐCS và những ai bị ĐCS thống trị là phải tuân lệnh vô điều kiện. Ở Trung Hoa, phần lớn dân chúng đều biết đến nhân cách kép của các thành viên ĐCS. Trong khung cảnh riêng tư, họ là những con người bình thường với những cảm xúc hạnh phúc, giận dữ, buồn phiền và hân hoan. Họ có những ưu điểm và khuyết điểm của con người. Họ có thể là cha mẹ, là vợ chồng hay là bạn hữu. Nhưng đặt lên trên bản tính và những tình cảm con người là đảng tính, mà theo những đòi hỏi của ĐCS, là một cái gì siêu vượt nhân tính. Vì thế, nhân tính trở thành tương đối và có thể thay đổi, đang khi đảng tính trở thành tuyệt đối, không thể hoài nghi hay thách thức được. Suốt cuộc Cách mạng Văn hoá, cha con hành nhau, vợ chồng đấu nhau, thầy trò phản nhau, mẹ con tố nhau như kẻ thù… là chuyện quá thông thường. Đảng tính đã thúc đẩy các tranh chấp và hận thù trong những trường hợp ấy... Quyền lực của đảng tính trên cá nhân là kết quả của những khóa nhồi sọ trường kỳ của ĐCS. Kiểu huấn luyện này khởi sự từ trước tuổi đi học và tại trường mẫu giáo, nơi mà các câu trả lời được khen thưởng vì đúng theo ý đảng chứ không vì theo lẽ thường hoặc theo nhân tính của một trẻ nhỏ. Học sinh nhận được sự giáo dục chính trị khi chúng vào tiểu học, trung học cũng như suốt con đường đại học, và chúng phải học những câu trả lời chuẩn theo đúng ý đảng, bằng không thì chẳng được đi thi và tốt nghiệp. Một đảng viên phải luôn nhất quán với đường lối Đảng khi nói công khai, dù trong riêng tư mình cảm nghĩ như thế nào”.

Những điều nói trên về Trung Quốc và ĐCS Trung Quốc cũng thấy y chang tại Việt Nam và ĐCS Việt Nam. Tác nhân khởi thủy và gương mẫu điển hình cho đảng tính (tức tâm thức nô lệ) này là Hồ Chí Minh. Chính ông ta từng tuyên bố: “Ai thì có thể sai chứ các đồng chí Stalin và Mao hai tên đại đồ tể của nhân loại thì không thể nào sai được”. Nhận lệnh Stalin và học đòi Mao, Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc Cải cách Ruộng đất giết trực tiếp và gián tiếp nửa triệu đồng bào ruột thịt, bắn bỏ ngay cả vị ân nhân của ông và của cách mạng là bà Nguyễn Thị Năm (theo lệnh các đồng chí cố vấn Trung cộng). Tiếp đến bắt chước Mao phát động phong trào "Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng" (1956) mà dựng lên phong trào “Trăm hoa đua nở” để thanh trừng giới trí thức trong vụ Nhân văn Giai phẩm (1958). Trường Chinh cũng noi gương ấy mà đấu tố cha mẹ. Tố Hữu cũng kêu gọi “Giết, giết nữa, bàn tay không ngơi nghỉ” để “thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”! Trong biến cố “long trời lở đất” ấy, đảng đã thúc đẩy, cưỡng bức hàng vạn người Việt đấu tố nhau, hành hạ nhau, phản bội nhau (ngay cả trong gia đình) để thực hiện cái gọi là “đạo đức cách mạng”....

Thứ “đạo đức cách mạng” tạo nơi đảng viên tâm thức nô lệ, tâm địa tôi tớ, mù quáng vâng lệnh cấp trên như thế -dẫu có phải tác hại đến thân thuộc, đồng bào, tổ quốc mình- vẫn còn hoành hành. Có điều là -như vừa thấy- cấp trên ấy có khi là đảng CS đàn anh (cụ thể là Tàu cộng), có khi là đảng viên thượng tầng, có khi lại là “nhóm quyền lợi”, tư bản trắng hay tư bản đỏ nào đó... Không như thế thì tại sao Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã vội ra công hàm 1958 công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc bao gồm 2 quần đảo nước Việt? Tại sao Bộ Chính trị đã im lặng khi Tàu cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988, thời gian gần đây còn bỏ tù các công dân phản đối Bắc phương xâm lược và cấm tưởng niệm các tử sĩ đảo Gạc Ma ? Không như thế thì tại sao Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười đã sang khấu đầu tạ lỗi, bái yết thần phục Giang Trạch Dân và Lý Bằng tại Thành Đô năm 1990 để “mở màn cho một thời kỳ Bắc thuộc nguy hiểm” (lời ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch), trong đó Trung cộng thao túng nền chính trị VN cho đến tận bây giờ. Tại sao Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng ngay từ năm 2001 đã đồng ý cho Trung Quốc (trong đó có những công ty bộn tiền) vào Tây Nguyên khai thác bauxite, ém quân phục sẵn, treo quả bom bùn đỏ trên đầu dân Nam bộ, bất chấp vô vàn lời khuyên, kiến nghị, thậm chí kháng thư của nhiều tướng lãnh, chuyên gia, nhân sĩ và dân thường? Không như thế thì tại sao Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu, ngay từ 2004 đã cho tiến hành nghiên cứu dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận và đến năm nay thì quyết tâm làm điện nguyên tử nhờ chuyên viên và kỹ thuật Nga lẫn Nhật, bất chấp sự cố nổ lò phản ứng tại hai quốc gia này, bất chấp các điều kiện hết sức bất thuận lợi (về tài chánh, khả năng chuyên môn, lương tâm liêm chính và ý thức trách nhiệm) phía VN, bất chấp kiến nghị cảnh báo của nhiều nhà khoa học tâm huyết và nhận định phản bác của nhiều công dân trong xã hội? Rõ ràng đối tượng để các lãnh đạo Hà Nội vâng lệnh và phục vụ không phải là nhân dân như khẩu hiệu “đảng CS là của dân, vì dân” và “cán bộ là đầy tớ nhân dân” luôn được tuyên truyền ra rả.

Đến giới gọi là “dân biểu” đang ngồi trong tòa nhà uy nghi mang tên Quốc hội, họ hầu như luôn luôn đạp dưới chân danh hiệu tôn quý “cơ quan quyền lực cao nhất” và quên đi thiên chức “thay mặt nhân dân, đồng bào” để trở thành “đảng biểu” vâng lời tối mặt Bộ chính trị. Họ từng mau chóng thông qua hai văn kiện hết sức mờ ám và bất bình đẳng: Hiệp định biên giới năm 1999 và Hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, bất chấp phản đối của nhiều tầng lớp nhân dân lúc đó. Đến vụ bauxite, khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố việc khai thác thứ quặng này tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng” ngày 04-02-2009, thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng lập tức cho ý kiến ủng hộ dẫu có thể đoán biết nguy cơ bom bùn đỏ và nguy cơ Tàu cộng xâm nhập yếu huyệt Tổ quốc. Tới ngày 25-11-2009, gạt bỏ những lời chỉ trích đến từ phía các cử tri từng “bầu” mình, Quốc hội VN đã chấp thuận dự án xây 2 nhà máy điện hạt nhân. Hãng thông tấn AFP cho hay hôm đó dự luật về điện hạt nhân đã được 77% số đại biểu thông qua, dù tuyệt đại đa số họ chẳng hề biết gì về các nguy cơ hay bất lợi của kỹ thuật này. Họ chỉ cần biết đảng muốn là đủ!

Nhưng phải nói thứ đầy tớ cần mẫn nhất hiện thời -không phải của dân như khẩu hiệu “vì nước quên thân vì dân phục vụ” nhưng là của đảng đúng với danh hiệu “thanh gươm và lá chắn bảo vệ chế độ” được Tổng bí thư phong tặng hôm 02-04- đó chính là công an! Mấy thập niên gần đây, kể từ khi mở cửa kinh tế, lực lượng này đã bày tỏ lòng khuyển mã với đảng, với các đảng viên cao cấp, với các đảng bộ địa phương, với nhà cầm quyền sở tại… qua việc đàn áp hàng ngàn cuộc biểu tình đình công của công nhân, giải tán hàng ngàn cuộc tụ tập khiếu kiện của nông dân, ngăn chặn hay sách nhiễu hàng chục cuộc xuống đường chống xâm lược của nhân dân, đánh đập thân thể hay cướp bóc cơ sở của các vị tu hành (như linh mục Hoa ở Kontum, linh mục Bình tại Hà Nội…); qua việc hỗ trợ bọn cường hào ác bá, nhóm đại gia tư bản… để cướp công sức và tài sản của nhân dân, như tại Tiên Lãng Hải Phòng đầu năm nay, và tại Văn Giang, Hưng Yên cách đây một tuần, với tất cả sự tàn bạo được buông cương, đúng với châm ngôn tự đặt: “chỉ biết còn đảng còn mình”.

Theo bình luận gia Ngô Nhân Dụng, “đó là một khẩu hiệu làm cho tất cả những người công an phải cảm thấy nhục nhã… Nỗi nhục nhã thứ nhất là nó đặt ra một điều kiện tồn tại cho bản thân mỗi người công an và tất cả lực lượng công an dính chặt với sinh mạng của một đảng chính trị chứ không nhân danh một nghĩa vụ nào cao hơn, lớn hơn. Mỗi đảng nào cũng chỉ là một nhóm người. Gắn bó sinh mạng của mình vào một nhóm người tức là chịu làm tay sai, làm “chó săn” cho bọn họ, chứ không phục vụ một lợi ích nào của chung quốc gia, dân tộc. Nỗi nhục thứ hai là cái tiếng xấu “bất trung, bất nghĩa” không thể chối cãi được. Những người công an sống bằng đồng tiền do hơn 80 triệu người dân đóng góp, nếu không có người dân làm việc, tạo ra của cải, đóng thuế, thì tất cả cái đảng mà họ đang bảo vệ chỉ toàn những người chỉ tay năm ngón không thể làm gì ra của cải, tiền bạc, để trả lương cho họ nuôi vợ con. Nhưng họ lại đi lo bảo vệ một bọn ăn trên ngồi chốc đó, không cần biết đến nguyện vọng của người dân, giẫm chân trên nỗi thống khổ của người dân, tạo thêm bao nhiêu cay đắng khác cho dân… Nỗi nhục nhã thứ ba là chính những người công an đang bị những kẻ nắm đầu họ coi họ chỉ toàn là một bọn không biết suy nghĩ; một đám ngu si. Ngu si vì chỉ biết tham lợi trước mắt mà không trông thấy mối nhục muôn đời; nhắm mắt nghe lệnh bảo vệ một chế độ mà không tự hỏi tương lai chính mình và con cháu mình sẽ ra sao”.

Cũng cần nói thêm vài hạng nô bộc khác. Đó là giới báo chí truyền thông lề phải. Mang danh hiệu cao quý “Tôi tớ của sự thật”, họ đã trở thành “Tôi tớ của đảng” với niềm tự hào đáng xấu hổ: “Báo chí cách mạng”. Báo chí cách mạng nên phải theo đạo đức cách mạng, phải có những bài báo tâng bốc lãnh đạo, tô hồng chính sách, ủng hộ chủ trương, vu khống chửi rủa kết án các công dân bị đảng coi là “phản động”, hoặc phải lặng im thin thít khi nhân dân bị đàn áp vì phản đối trò cướp bóc của các đảng viên tư bản như trong vụ Ecopark mới rồi. Một giới nữa là những lãnh đạo tinh thần mà tinh thần đã bị đảng lãnh đạo. Là “ngôn sứ của Thiên Chúa”, “sứ giả của Đức Như Lai”, đáng ra họ phải dám lên tiếng cho sự thật và bênh vực cho lẽ phải, trước ai cả và hơn ai cả, như tín đồ lẫn người dân mong đợi trong cái xã hội tràn ngập gian dối và bất công này. Nhưng vì muốn an thân sung sướng, sợ bị phanh phui đời tư, hoặc ưa thành công bề ngoài như tổ chức lễ hội linh đình, xây dựng cơ sở hoành tráng, họ đã dửng dưng trước nỗi khổ của đồng bào hay đồng đạo, lặng im trước sai lầm và tội ác của cường quyền, bất biết những nguy cơ của dân tộc và đất nước.

Nếu các lãnh đạo tinh thần mà như thế, họ đã đồng lõa với tội ác lớn nhất của đảng Cộng sản: làm cho toàn dân u mê đầu óc, ủy mị tâm hồn và bạc nhược ý chí, nghĩa là trở thành một đám tôi tớ, bầy đàn nô lệ, để đảng có thể thống trị dài lâu.

Ban Biên Tập (số 146, ngày 01-05-2012)
-Nhấn vào Link này để "download" (save as) Bán nguyệt san TDNL ở dạng (format): .pdf, sẽ chậm (xin kiên nhẫn!), nếu bạn không sử dụng đường dây cao tốc Internet DSL, nhưng toàn bộ mỗi số báo 32 trang sẽ giữ dạng nguyên thủy, như là 1 file duy nhất: http://www.tdngonluan.com/pdf/TuDoNgonLuan_So146_1May2012.pdf
....................................................................................................
Chân    thành    cảm    tạ    qúy    vị    ghé    thăm    trang    nhà    website    Tự    Do    Thông    Tin    Ngôn    Luận    cho    toàn    dân    Việt Nam

Copyright © 2006 www.tdngonluan.com/Email: witness2005@gmail.com/Webmaster: legraphic@yahoo.com - All rights reserved.